Danh sách Blog của Tôi

Thứ Năm, 21 tháng 1, 2010

NHỮNG TÌNH KHÚC CHIẾN TRƯỜNG MỘT THỜI TUỔI LÍNH

Cuộc chiến VN kéo dài gần ba mươi năm (1945-1975) nay xem như đã kết thúc nhưng đâu đó dường như vẫn còn những tiếng rên nghẹn ấm ức của những người lính già Miền Nam thua trận còn sống sót sau một cuộc đổi đời. 

Tất cả như một màn kịch có nhân vật, thời gian và địa điểm, được đạo diễn cho mở màn và kết thúc sân khấu một cách tài tình. Có điều màn kịch được các diễn viên hay nói đúng hơn đó là những người lính trận mà hầu hết đang ở cái tuổi ‘ xuân thì đầy mộng mơ hoa bướm ‘ ghi lại qua những ‘ Tình Khúc ‘ được viết từ mặt trận đang còn nghi ngút khói, bên xác của bạn lẫn thù, đã làm cho những người xem sửng sốt tới rơi lệ vì không mấy ai tin là sự thật.

‘ băng đạn cuối chìm rơi khi qua sông

người lính mệt nhoài nằm ngủ

đầu dựa góc đa

hàng bình vôi trắng răng cười cợt

thép súng khô dầu bụi nước hoen

có phải hòa bình vừa nở một bông hoa

nở giữa tình yêu và tiếng hát .. ' ' '

(Thi Vũ tháng 1/1973 - thơ tình của người lính)

Họ là lính nên ai cũng viết rất chân thật về tâm trạng của mình qua sự lo âu, thương xót, phẩn nộ, bi ai và chán đời trong lúc đang đối mặt với tử thần từng phút từng giây vì tình hình bất ổn tại hậu phương và cảnh chiến tranh loạn lạc hầu như khắp bốn vùng chiến thuật mà người lính trận nào cũng phải đăt chân tới. 

Tất cả đã trở thành những sự kiện có tính chất lịch sử qua những tiếng khóc thực dù không dám khóc to trước mặt bạn bè đồng đội. Mà dù có khóc to thì cũng chẳng để làm gì vì ai biểu chúng ta sinh ra làm trai hùng nước Việt ?

‘em mắt nghìn thu xanh cỏ biếc

ta lên rừng thắm ngủ chiêm bao

vòng tay thần thánh xa biền biệt

ta gặp nhau mà vẫn nhớ nhau


em nhớ ta hay ta nhớ em ?

từng đêm lặn lội giữa bưng biền

ta qua Hậu Nghĩa ngày mưa xám

róc vỏ thân chàm ta viết tên

 

năm tuổi chiến trường xuôi vạn lý

núi sông biết mặt đứa phong trần

yêu em ta bổng thành thi sĩ

thơ lính hào hoa vỗ súng ngâm.. ' ' '

( Chiêm Bao, Thiếu Khanh)

Ðó là cái đỉnh cao của thơ văn do lính viết qua suốt cuộc chiến từ 1960-1975. Cho dù nay phần lớn những tác giả đã không còn nhưng kỷ niệm ngày xưa vẫn cứ ngổn ngang trong tâm trí mọi người, một phần bởi tiếng thơ đầy nước mắt tuy rất cởi mở và ấm áp tình người. Ðó cũng là lý do xuân tết xưa nay luôn được thi nhân ưu ái trong thi ca nhưng với lính thì ngày nào cũng như mọi ngày, vất vã cơ cực tới cái mức không còn ai khổ hơn. Cho nên với họ lấy gì vui để mà xuân hay Tết như người lính Vũ Hoàng qua bài thơ ‘ Mưa Xuân Ngoài Biên Khu ‘ viết tặng Lâm Hảo Dũng :

‘hãy uống cạn cho lòng vơi nổi nhớ

rượu chất đầy : nón sắt bình đông

người lấy rượu đốt men xuân càng nồng

ta say khướt để quên đời dưới đó

dẫu là xuân hay hạ đông gì cũng thế

bởi quanh năm ta với rượu : đôi bạn già

(tiển thằng bạn vừa mất ta nốc đầy cốc rượu

mừng kẻ nhập đàn ta lại cụng ly ).. ' ' (Vũ Hoàng)'

 

‘bó gối trong căn hầm tránh đạn

chia nhau một cốc cà phê đen

hít dăm ba điếu quân tiếp vụ

ấy tết cô đơn của lính quèn

rừng vẫn viễn miên buồn ủ rũ

gục đầu tắm đạn pháo thương đau

chim rừng cũng bỏ đàn về núi

để mặc chinh nhân vạn cổ sầu .. ' ' '

(Xuân chiến địa - Phong Nhân Hoài)

Thân phận và hiện hữu là hai mộng ước mà người lính trận nào cũng canh cánh bên lòng. Vì vậy nó đã chắp cánh thành thơ đậu trên đầu súng, đầy ắp trong chiếc ba lô và chan chứa khắp mặt đất. Nhờ vậy mà người lính mới phần nào phôi pha cái ranh giới tử sinh trước mắt. 

Nổi nhớ của người lính khác hẳn với những tình cảm thừa mứa nơi chốn hậu phương vì ở đây con người có nhiều thời gian để mà yêu hờn ghét giận như Thanh Tâm Tuyền đã viết ‘ ôm em trong tay mà nhớ em những ngày sắp tới ‘ hay cùng lắm thì ‘ vắt mẫu thuốc cuối cùng xuống dòng sông mà lòng phơi trên kè đá ‘.

Ngược lại người lính Trần Văn Sơn thì tự mình kể chuyện trong một đêm kích ở Dốc Ðồn Ðền làm cho những người một thời trong cuộc, đọc tới thấy thật là gần gũi thân thương và hối tiếc vì nó đã không còn :

‘Ðêm nằm nghe vượn hú

ba lô, súng gối đầu

mắt mở trừng không ngủ

rừng tiếp rừng âm u

gió lòn qua kẽ lá

cuốn tròn trong ba lô

rét rừng cơn mệt lã

đồi tiếp đồi bao la

hay :

‘dẫu nước mắt mọi người có vỗ về hy vọng

ta vẫn cười khan nhìn bạn bè say

có phải không em dù mây vẫn cứ bay

và mai mốt ta có nằm yên trong lòng đất

em hãy giữ trong lòng những điều thành thật

ta đã cho em và chưa vội mang theo

giữa đời ta không phân biệt bạn thù

chuyện sinh tử là chuyện từng giây phút ‘

(Khi xa Bình Tuy)

Phần lớn những bài thơ của lính là loại thơ ‘ Tự Sự ‘ được viết như những ‘ tình khúc chiến trường ‘ vì tự nó có đủ tầm vóc của môn thi ca chứa đựng các phần ngôn ngữ, nhạc điệu, cảm xúc và sự gợi cãm. Sự đồng điệu ngẫu hứng giữa thơ lính và những nhạc khúc được Nhật Trường Trần Thiện Thanh, Dũng Chinh Nguyễn văn Chính.. sáng tạo trước tháng 4-1975, phải chăng đó là tâm cảnh của đời lính, nên ai cũng đều có sự suy nghĩ giống nhau cho dù xa cách muôn trùng. 

Nhưng yếu tố tạo nên sự đồng cảm đó , trước hết cũng là do tình yêu quê hương của mọi người. Có yêu nước thương dân mọi người mới hy sinh đời mình để chấp nhận tử sinh thua thiệt. 

Chân thành trong câu chuyện kể đã làm rung cảm một cách sâu sắc tới người đọc, nhất là những em gái hậu phương, vì yêu lính bằng lời, nên đã cất giữ những hình bóng cũ, nhờ vậy mà nó đã trở thành bất tử tới ngày nay, cho dù anh có hiên ngang hay đã trở thành tàn phế :

‘Rừng thưa dạt gió Hạ Lào

đêm nằm phục kích nhìn sao, nhớ nhà

tháng tư thương nụ hoa cà

hồn quê gởi ngọn mây xa cuối trời

(viết ở căn cứ Tiên Sa)

Phất phơ áo lụa trên cầu

nắng nghiêng cổ tháp ngã màu thời gian

gió xao sóng nước mênh mang

thương em, nhớ mẹ ngập tràn nhánh sông

(chiều qua sông)

Ba mươi tuổi bóng tôi về hối hả

đàn em nhìn như người lạ quây quanh

chân khập khểnh đứng trên bờ đất lở

tuổi ngày xuân theo lá rụng tan tành.. ' ' '

( Trần Vạn Giả , Tình cảnh người về)

Bạch Cư Dị là một trong những nhà thơ cổ Trung Hoa được nổi tiếng khi ông viết ‘ Tỳ Bà Hành ‘ kể lại số phận hẳm hiu của người ca kỷ về chiều trên bến Tầm Dương. Trong xã hội Miền Nam VN thời chinh chiến, số phận của người lính cũng thương đau chất chứa hằng hằng, cho dù là người đã chết hay bị thương tật tàn phế như Phế Binh Trần Quang Thiếu đã ghi lại trong bài thơ ‘ Buổi nhớ núi ‘ :

‘mới hôm nào dừng chân ven núi

bè có bè có đứa còn vui

anh có anh, chúng ta đời lính

còn lúc này tay nắm môi cười

đêm nằm ngủ cay hơi khói đạn

chân co tìm dấu mất chân xưa

ta bỏ quên bên ngoài biên trận

tặng cho rừng ướt lá thêm mưa

Buổi đến rừng cây cao nhớ núi

gió nhớ đời ta nhớ anh em

giờ một chân, tật nguyền đau dại

mưa móc người, ơn núi nghĩa sông

Ðời ai mà không có bạn nhưng đậm đà thắm thiết hơn vẫn là tình lính sống chết có nhau, chính cái thâm giao huynh đệ chi binh đó , đã làm bén lửa trong hồn những con người mà ai cũng tưởng là chai đá nhưng thật sự có ai sưót mướt trữ tình bằng họ ?

Chợt nhớ xuân nào trên chiến địa,

Tao mày hiu hắt đón xuân chơi

Một thằng lính bộ đời như bỏ

Một đứa nhảy dù cũng tả tơi..

Bốn câu thơ của người lính Phong Nhân Hoài viết cho bạn năm nào, đã làm cho người lính gia tha hương càng thêm trơ trọi, lạc lõng giữa tối ba mươi lạnh lẽo nơi chốn quê người.. Trong quán khách bên đường, ta một mình sóng đôi với ngọn đèn hiu hắt, qua đêm lại một năm buồn. 

Rượu chưa nhắp mà môi dã muốn cay sè, ngoài trời con chim kỹ niệm vẫn như thiết tha giục giã dù khói lửa đã ngưng trên chiến địa, bạn bè cũng không còn quan hà cạn chén ly bôi , sau những tiếng tỳ bà nhặt khoan nức nỡ. Tan tác, chia xa,giờ đây chúng ta đang lang thang như mây chiều, sau những năm tháng đã giốc ngược đời mình cho quê hương.

‘Tội nghiệp đời trai chưa thỏa chí

sa trường dung ruổi đã phơi thây

đoàn quân hùng liệt nay về đất

hồn vẫn quanh co giẩm lối gầy

Chiều chiều đứng ngóng ngàn mây nổi

mà khóc quê hương khuất bến bờ

đêm hát vang lừng nơi chiến địa

mộng hoàng hôn khép giữa hư vô .. ' ' '

Thời gian trôi đi tưởng có thể làm vơi phần nào nổi đau của thân phận nhưng ai có thể làm ngơ khi được đọc qua những lời thơ viết của Trần Dzạ Lữ, của Tô Thùy Yên, của Trần Ðức Uyển.. những người lính được sống sót sau chiến trận, đã gởi vào gió đất những tiếng thầm thì, cố níu lại thời gian để mình được sóng với đồng đội vừa gục ngã :

‘giặc đánh lớn, mùa mưa đã tới

mùa mưa như một trận mưa liền

châu thổ mang mang trời sát nước

hồn chừng hiu hắt nổi không tên

tiếp tế khó, đôi lần phải lục

trên người bạn gục đạn mười viên

di tản khó, sâu giòi lúc nhúc

trong vết thương người bạn nín rên

người chết mấy ngày chưa lấy xác

thây sình, mặt nát lạch mương tanh .. ' ' '

( qua sông )

‘bốn năm thằng lơ láo

áo quần rách tả tơi

ăn cơm bên xác người

tay bốc tay cầm súng


lòng nhớ mẹ phương tây

ý thương em chạy giặc

xóm làng sầu khôn khuây

 

ăn xong múc nước ruộng

uống đại cho qua ngày

quê nhà em có biết

chinh chiến thân lưu đày

 

ăn được là điều may

có khi hai ba ngày

không ăn chẳng có uống

ta nằm với cỏ cây.. ' ' '

(Trần Dzạ Lữ - Bữa cơm ngoài chiến trường)

‘Tự hỏi về đâu, đâu chả được ?

hãy tìm bên suối ngủ đêm nay

gối đầu lên đá nhìn trăng sáng

rừng núi sương mù ướt chẳng hay.. ' ' '

(Trần Ðức Uyển - Buổi chiều ngồi trên đá)

Cuộc chiến đã khuất dần trong quá khứ hơn một phần tư thế kỷ nhưng dư âm của nó vẫn còn phảng phất khắp nơi nơi, in đậm trên từng khuông mặt héo gầy của những chàng trai Việt một thời ngang dọc, đã bỏ lại chiến trường một phần cơ thể của mẹ ban cho. Nhưng xương máu của chúng ta tới nay cũng vẫn là những đóng góp cao quý trong công cuộc ngăn chống giặc thù bảo vệ quê hương Miền Namsuốt hai mươi năm chinh chiến.

‘Trên non năm bảy thằng tuổi trẻ

buổi chiều thu uống rượu không cười

ôi người tuổi trẻ sầu trong mắt

đêm trong rừng mộng gởi quê cxa

quê xa ta có em và mẹ

nhớ ao bèo xanh bông tím thiết tha

nhớ người con gái bên hàng xóm

chiều thả thuyền vớt mộng nở hoa.'

(Vũ Hửu Ðinh viết cho Trần Dạ Lữ).

Trên đường mênh mang đi tìm đồng đội cũ khắp miền yêu thương trong ký ức, qua hàng ngàn bài thơ được viết từ chiến trường lửa đạn, nơi chòi canh đồn vắng, trong giao thông hào hay nơi quán lẽ bên đường những lúc người lính tạm dừng chân.

Ðời lính gian lao cực khổ nên đâu sá gì chuyện đổi thay của trời đất. Nhưng thật tình mà nói mỗi khi tới mùa mưa làm nhớ không chịu được, dù là mưa bụi lất phất từng hạt nhẹ hay những cơn mưa đầm đìa nước mắt rơi lộp độp trên nón sắt hay những tấm poncho. Bởi vì mỗi mùa mưa là những mùa kỷ niệm buồn vui của tuổi học trò. 

Thời tao loạn, mấy đứa con trai tới tuổi lớn đã không còn được cắp sách đến trường, đã xa rồi một cuộc tình thương nhớ. Năm 1966, từ chiến trường Bùi Khiết đã viết gửi về em những niềm thương nhớ :

‘Vào đêm em ngủ chưa em ?

Trong mơ có gặp ưu phiền nhiều không ?

Ðèn xanh thành phố xa trông

Hoang vu anh đứng mà lòng chiêm bao

Mưa rừng tiếng lá xôn xao

Tay ôm súng lạnh buồn sao là buồn .. ' ' '

(Thơ Bui Khiết viết trong Ðêm mưa hành quân 1966)

Buồn quá đời lính thú đã kéo chúng ta ra khỏi cuộc gối chăn, tất cả những con đường ngắn dài của tuổi thơ đã trở thành những nẻo đường trong trí nhớ nên chỉ còn biết vui với rừng sâu mưa núi qua cuộc rượu những lúc dừng chân bên quốc lộ đêm nhớ ngày mong :

‘rượu pha xá xị đầy nón sắt

dăm thằng chuyền nhau uống vòng vòng

đuổi bắt nhau như ngày với tháng

như khoanh tròn tựa một số không ‘

(Linh thú - 1973)

Ðà Lạt mù sương với những đồi thông và muôn ngàn cỏ hoa nỏn nưởng khoe hương sắc, Ban Mê Thuộc, PleiKu, Kon Tum cát bụi mịt mù, những địa danh đến và đi của người lính biên trấn Quân Khu II một thời oanh liệt, những chiến sĩ Lôi Hổ, Biệt Ðộng Quân, Nhảy Dù, Sư Ðoàn 22 và 23 Bộ Binh một thời vẩy vùng ngang dọc, đã được người lính Vũ Hửu Ðịnh ghi lại qua nhiều tình khúc rất nồng nàn. Tiếc thay Anh đã qua đời quá sớm vào năm 1980 khi mới có 34 tuổi (1980-1946) :

‘phố núi cao phố núi đầy sương

phố núi cây xanh trời thấp thật buồn

anh khách lạ đi lên đi xuống

may mà có em đời còn dễ thương

 

em Pleiku má đỏ môi hồng

ở đây buổi chiều quanh năm mùa đông

nên mắt em ướt và tóc em ướt

da em mềm như mây chiều trông

 

xin cám ơn thành phố có em

xin cám ơn một mái tóc mềm

mai xa lắc trên đường biên giới

còn một chut1 gì để nhớ để quên.. ' ' '

(còn một chút gì để nhớ)

 

cũng có khi nào anh trở lại

phố xưa đường cũ mùa mưa bay

mưa như gió ướt nên lòng lạnh

gió thổi sầu sương đậu tóc bay

phố không đèn điện con đường lặng

những ánh đèn cây sáng chập chờn

anh gặp em ngồi đang rẽ tóc

mái tóc dài xanh những ngón tay

và anh yêu lấy sầu chẳng nói

mình anh ở lại quán mù mù

tưởng bao năm trước ta là bạn

chỉ nhìn nhau mà cảm được nhau.'

(Cũng có khi nào)

Thật là cảm động biết bao những người lính sau cuộc chiến may mắn được sống sót, ngồi hồi tưởng lại những đêm say cùng bạn trong ‘ Quán Cô Hồn ‘ với bửa tiệc nơi quán xếp bằng xị rượu nồng, miếng khô nai cứng ngắc nhai trong miệng mà ta cứ tưởng như đang nhai cả cuộc đời lận đận đắng cay của kiếp lính, cho nên uống vào như ta uống cả niềm đau sầu cháy long đong. 

Buồn quá đổi lại càng buồn thêm khi chạnh nhìn cô quán trẻ vừa mới làm quả phụ khi cuộc tình chưa quá một mùa đông. Sau đó bạn ra đi và đã gảy cánh tại Kon Tum năm 1974, được Tiếp Sĩ Trường một phi công ở Phi Ðoàn 218 ghi lại qua bài thơ ‘ Nữa Mảnh Phi Bào ‘ khóc bạn cố Trung Uý Nguyễn Văn Phú :

‘ .. cởi mảnh phi bào anh để lại

trao về quê mẹ một trời xuân

mai đây nếu có ai thương tiếc

xin đốt cho người một nén hương

 

ngày xưa anh đứng bên song cửa

nhìn áng mây trời ngó cánh bay

giờ đây mây trắng anh xây mộng

lại biến vành tan buổi xum vầy.. ' ' '

(nửa mãnh phi bào)       

Hình như mùa xuân đã đến bên thềm gió trong mông mênh cùng tận, như những năm nao, tôi lại âm thầm lâm râm cầu nguyện cho gia đình, bạn bè, đồng đội, đồng bào.. được may mắn an bình trong buổi hổn mang dâu bể..

‘mai về nẻo ấy chiều sương khói

ta biết tìm đâu bước bạn hiền

vượt thác Mé Kông qua cầu khỉ

Paské héo hắt bóng trăng đơn

 

mai về quê mẹ qua biên giới

thăm lại Trường Sơn thuở kiếm cung

rừng núi vẫn xanh màu khát vọng

chỉ ta hờn tủi kiếp tha hương

(thì thôi hãy khóc để quên đời ố MG).

Có ai còn nhớ lối xưa để tìm về mà có tim chăng nữa thì cũng chỉ thấy những thành mộ chí hoang vu, cỏ lau xưa hiu quạnh, khiến cho những người lính già cứ ngẩn ngơ hóa bướm dù bàn tay vẫn ấp trên những trang báo ngày nào. Ngoài đêm bây giờ hình như tiếng ngựa vẫn còn lao xao hí hoài những hồi thúc giục, đời vẫn mỡ ra trước mắt như đang gọi hồn người lính đi vào cõi mộng lung muôn trùng.

Viết từ Xóm Cồn Hạ Uy Di

Ðầu Giêng 2010

MƯỜNG GIANG

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét